Pháp lệnh Vệ sinh An toàn Thực phẩm (VSATTP) ngày 7/8/2003 (điều 3 điểm 10) và Thông tư số 08/2004/TT-BYT ngày 23/8/2004 hướng dẫn quản lý sản phẩm thực phẩm chức năng (TPCN) đều thống nhất khái niệm: “Thực phẩm chức năng (functional food) là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh”. Như vậy, TPCN là loại thực phẩm nằm giới hạn giữa thực phẩm (truyền thống – food) và thuốc (drug). TPCN thuộc khoảng giao thoa giữa thực phẩm và thuốc. Vì thế người ta còn gọi TPCN là thực phẩm – thuốc (food – drug).
Điểm khác nhau giữa TPCN và thực phẩm truyền thống. Dù thực phẩm chức năng hay thực phẩm gì cũng cần phải công bố tiêu chuẩn chất lượng thực phẩm
TPCN được sản xuất, chế biến theo công thức: bổ sung một số thành phần có lợi hoặc loại bớt một số thành phần bất lợi (để kiêng). Việc bổ sung hay loại bớt phải được chứng minh và cân nhắc một cách khoa học và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (thường là phải theo tiêu chuẩn).
TPCN có tác dụng với sức khỏe nhiều hơn (tác dụng với một hay một số chức năng sinh lý của cơ thể) hơn là các chất dinh dưỡng thông thường. TPCN ít tạo ra năng lượng (calorie) cho cơ thể như các loại thực phẩm truyền thống (gạo, thịt, cá…)
Liều sử dụng TPCN thường nhỏ, thậm chí tính bằng miligram, gram như là thuốc. Đối tượng sử dụng có chỉ định rõ rệt như người già, trẻ em, phụ nữ tuổi mãn kinh, người có hội chứng thiếu vi chất, rối loạn chức năng sinh lý nào đó…
Điểm khác nhau giữa TPCN và thuốc:
TPCN được nhà sản xuất công bố trên nhãn sản phẩm là thực phẩm, bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn sức khoẻ, phù hợp với các quy định về thực phẩm.
Thuốc được nhà sản xuất
công bố thực phẩm trên nhãn là sản phẩm thuốc, có tác dụng chữa bệnh, phòng với công dụng chữa bệnh, phòng với công dụng, chỉ định, liều dùng, chống chỉ định. Thuốc là những sản phẩm để điều trị và phòng bệnh, được chỉ định để nhằm tái lập, điều chỉnh hoặc sửa đổi chức năng sinh lý của cơ thể.
Ví dụ: Trà bạc hà
- Nếu ghi trên nhãn: Nước uống giải nhiệt, thì là: Thực phẩm.
- Nếu ghi trên nhãn: Chỉ định điều trị rối loạn dạ dày, thì là: Thuốc.
TPCN có thể sử dụng thường xuyên, lâu dài nhằm nuôi dưỡng (thức ăn qua sonde), bổ dưỡng hoặc phòng ngừa các nguy cơ gây bệnh… mà vẫn an toàn, không có độc hại, không có phản ứng phụ. Người tiêu dùng có thể tự sử dụng theo “hướng dẫn cách sử dụng” của nhà sản xuất mà không cần khám bệnh kê đơn của thầy thuốc.
Phân loại TPCN:
Theo bản chất cấu tạo và tác dụng của TPCN mà người ta chia thành:
Nhóm TPCN bổ sung vitamin và khoáng chất: Loại này rất phát triển ở Mỹ, Canada, các nước châu Âu, Nhật Bản… như việc bổ sung iode vào muối ăn, sắt vào gia vị, vitamin A vào đường hạt, vitamin vào nước giải khát, sữa… việc bổ sung này ở nhiều nước trở thành bắt buộc, được pháp luật hoá để giải quyết tình trạng “nạn đói tiềm ẩn” vì thiếu vi chất dinh dưỡng (thiếu iode, thiếu vitamin A, thiếu sắt). Ví dụ:
- Nước trái cây với các mùi khác nhau cung cấp nhu cầu vitamin C, vitamin E, B-caroten rất phát triển ở Anh.
- Sữa bột bổ sung acid folic, vitamin, khoáng chất rất phát triển ở Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Đức, Pháp, Ý, Braxin…
- Bổ sung iode vào muối ăn và một số sản phẩm bánh kẹo được phát triển ở trên 100 nước.
- Bổ sung vitamin và khoáng chất vào các loại nước tăng lực được phát triển mạnh mẽ ở Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc.
- Bổ sung DHA, EPA, -3… vào sữa, thức ăn cho trẻ…
Đây là nhóm phong phú và đa dạng nhất. Tuỳ theo nhà sản xuất, có các dạng viên nang, viên nén, viên sủi, chứa các hoạt chất sinh học, vitamin và khoáng chất.
Ví dụ: Viên C sủi, viên tăng lực; viên đề phòng loãng xương (có nhiều canxi); viên đề phòng thoái hóa khớp; các loại thực phẩm chức năng chống ôxy hoá do các viên có chứa hoạt chất sinh học từ thảo dược…; thực phẩm chức năng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị các bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường, rối loạn thần kinh và các chứng, bệnh mạn tính khác.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét